Giới thiệu chung

1. Khái quát đặc điểm, tình hình

Xã Hồng Lộc là xã miền núi, được thành lập theo Nghị quyết số 1665/NQ-UBTVQH15, ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; trên cơ sở sáp nhập toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của 02 xã (Hồng Lộc, Tân Lộc). Sau khi sáp nhập, xã có với diện tích 33,78 km2; quy mô dân số 17.059 người; gồm 11 thôn, 24 Đảng bộ, chi bộ trực thuộc, với 721 đảng viên. Đây là dấu mốc quan trọng trong sự phát triển chung của tỉnh, mở ra một thời kỳ mới trong đời sống nhân dân xã Hồng Lộc.

Việc thành lập xã Hồng Lộc trên cơ sở sáp nhập không chỉ đơn thuần là sự thay đổi về địa giới hành chính, mà còn là bước ngoặt quan trọng trong tiến trình sắp xếp, kiện toàn bộ máy, tinh gọn tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Đây là một dấu mốc lịch sử đối với địa phương, mở ra cơ hội phát huy tiềm năng đất đai, lao động, truyền thống văn hóa và khơi dậy sức mạnh đoàn kết của nhân dân.

Trong những năm qua, cùng với sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, Huyện ủy, Đảng ủy xã đã phát huy tinh thần đoàn kết, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và nhân dân trong thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt, một số lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi tập trung đã có bước chuyển biến tích cực; đời sống người dân từng bước được cải thiện.

Tuy nhiên, xã Hồng Lộc vẫn là địa phương thương mại và dịch vụ phát triển chậm, chưa hình thành các trung tâm, chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm ổn định. Hoạt động kinh doanh trên địa bàn chủ yếu là các hộ cá thể, buôn bán nhỏ lẻ tại chợ truyền thống; thiếu các doanh nghiệp đầu mối, thiếu cơ sở kho bãi, dịch vụ vận tải, dịch vụ logistics hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ hàng hóa. Sản phẩm nông – lâm – thủy sản phần lớn tiêu thụ qua thương lái, giá trị thấp, thiếu sự ổn định, dễ bị ép giá khi thị trường biến động; quá trình phát triển sản xuất hàng hóa và kết nối với chuỗi cung ứng của xã Hồng Lộc còn gặp trở ngại do thiếu đội ngũ tư vấn kỹ thuật, hỗ trợ xây dựng mô hình sản xuất chuyên sâu, thiếu định hướng chiến lược trong quảng bá thương hiệu và kết nối tiêu thụ.

Phần lớn nông dân chưa tiếp cận đầy đủ với các nền tảng thương mại điện tử, kênh phân phối hiện đại, dẫn đến việc tiêu thụ sản phẩm còn bị động.
Cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, nhất là giao thông kết nối vùng sản xuất với thị trường còn hạn chế; một số tuyến đường liên thôn, liên xã xuống cấp gây khó khăn cho vận chuyển hàng hóa. Nguồn lực đầu tư còn mỏng, khả năng thu hút doanh nghiệp ngoài địa phương về đầu tư sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm còn yếu.
Bối cảnh đó vừa là khó khăn, thách thức, vừa đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với cấp ủy, chính quyền xã trong việc cụ thể hóa Nghị quyết 11-NQ/TU, tìm hướng đi phù hợp để khắc phục hạn chế, khơi dậy tiềm năng đất đai, lao động và truyền thống cần cù của nhân dân nhằm thúc đẩy kinh tế hàng hóa, mở rộng dịch vụ và logistics trong giai đoạn tới.

  • Vị trí địa lý • Tọa độ địa lý: Khoảng 18°30′11″B và 105°49′45″Đ.

*Ranh giới tiếp giáp:

• Phía Bắc: Giáp xã Cổ Đạm.

• Phía Nam: Giáp xã Mai Phụ và xã Đông Kinh.

• Phía Đông: Giáp khu vực Lộc Hà.

• Phía Tây: Giáp xã Tùng Lộc.

* Đặc điểm tình hình và tự nhiên

• Diện tích và dân số: Diện tích tự nhiên rộng khoảng 33,78 km²; quy mô dân số đạt 17.042 người (mật độ dân số khoảng 504 người/km²).

• Địa hình: Mang tính chất hỗn hợp và chuyển tiếp giữa vùng đồi núi thấp thuộc dãy Hồng Lĩnh ở phía Tây/Tây Bắc (thích hợp trồng rừng, cây ăn quả) và vùng đồng bằng thấp trũng ở phía Đông/Nam với hệ thống kênh rạch phục vụ sản xuất lúa nước.

• Kinh tế - xã hội: Nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, trồng trọt nhờ đất đai màu mỡ, kết hợp với định hướng phát triển thương mại, dịch vụ và hạ tầng nông thôn mới ngày càng được đầu tư đồng bộ. Trụ sở hành chính của xã mới đặt tại khu vực Thôn Tân Thượng.

2. Công tác học tập, quán triệt, triển khai Nghị quyết

Ngay sau khi Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TU, Đảng ủy xã đã tổ chức 06 hội nghị học tập, quán triệt đến toàn thể cán bộ, đảng viên; 100% chi bộ tổ chức sinh hoạt chuyên đề, gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Tỷ lệ cán bộ, đảng viên tham gia học tập đạt trên 90%.
Đáng chú ý, việc học tập Nghị quyết không chỉ dừng lại ở nghiên cứu tài liệu mà được lồng ghép thảo luận, đối thoại, liên hệ với thực tiễn từng ngành, từng lĩnh vực; qua đó nâng cao nhận thức, thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng bộ.

3. Xây dựng và ban hành văn bản chỉ đạo, kế hoạch

Đảng ủy xã đã ban hành 05 Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng ban, ngành, đoàn thể; UBND xã cụ thể hóa bằng các chương trình, đề án phát triển kinh tế, hỗ trợ sản xuất, xây dựng hạ tầng.

Điểm nổi bật là đã gắn kết việc triển khai Nghị quyết với xây dựng nông thôn mới nâng cao, chuyển đổi số trong quản lý, và khuyến khích kinh tế tập thể, hợp tác xã tham gia chuỗi giá trị.

4. Công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát:

Thường trực Đảng ủy, UBND xã duy trì chế độ kiểm tra định kỳ và chuyên đề, tập trung vào các lĩnh vực: phát triển dịch vụ thương mại, nuôi trồng thủy sản, cải cách hành chính, quản lý đất đai. Ban Thường vụ Đảng ủy đưa nội dung thực hiện Nghị quyết vào chương trình kiểm tra, giám sát hằng năm, coi đây là tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tập thể, cá nhân.